Truyền thông sức khỏe

Khoa Dược  »  Phục vụ cộng đồng  »  Truyền thông sức khỏe


Bệnh áp tơ (nhiệt miệng)

 

  1. 1. Khái niệm

Bệnh áp tơ miệng trong dân gian thường được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: nhiệt miệng, loét miệng, lở miệng...

Loét áp tơ (apthous) đặc trưng bởi sự tái phát của một hoặc nhiều vết loét đau, hay tái phát, thường gặp ở miệng/sinh dục hình tròn hoặc oval, riêng rẽ, giới hạn rõ với viền ban đỏ ngoại vi và dịch tiết hơi vàng dính ở trung tâm. Tiến triển có thể khác nhau tùy mức độ, có bệnh nhân chỉ xuất hiện 1 tổn thương không thường xuyên và có người có nhiều tổn thương và nhiều đợt tái phát.

  1. 2. Căn nguyên

Nguyên nhân của viêm loét miệng chưa được xác định rõ, được cho là do sự tương tác của nhiều yếu tố, bao gồm di truyền và rối loạn đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Trong giai đoạn sớm, biểu mô miệng xuất hiện thâm nhiễm tế bào lympho, phù nề, thoái hóa không bào tế bào sừng và viêm mạch, dẫn đến hình thành ổ loét. Cơ chế bệnh sinh chủ yếu liên quan đến hoạt hóa tế bào T và tăng sản xuất các cytokine tiền viêm, đặc biệt là TNF-α, làm tăng hóa hướng động bạch cầu trung tính, tăng biểu hiện MHC và thúc đẩy tế bào T CD8+ phá hủy tế bào biểu mô. Ngoài TNF-α, các cytokine như IL-1β, IL-2, IL-6 và IL-10 làm tăng quá trình viêm và tổn thương niêm mạc.

Hình 1. Nguyên nhân gây loét áp tơ

  1. 3. Dịch tễ học

Loét áp tơ được ghi nhận trên toàn thế giới (5-25% dân số) với tỉ lệ cao nhất ở Trung Đông, khu vực Địa Trung Hải và Nam Á. Hầu hết các tổn thương loét áp tơ  xuất hiện trong tuổi thanh thiếu niên, tỷ lệ và mức độ nặng của bệnh giảm dần theo tuổi.

Trong ba thể lâm sàng của bệnh, thể áp tơ nhỏ chiếm hơn 70% trường hợp, thể lớn và thể dạng herpes chỉ chiếm khoảng 10% mỗi loại.

  1. 4. Triệu chứng lâm sàng
  • Tổn thương cơ bản:

+ Vết loét riêng rẽ, hình tròn hoặc hình oval, xung quanh có quầng đỏ và dịch tiết hơi vàng dính ở trung tâm. 

+ Loét áp tơ thể nhỏ: thường gặp, là các vết loét nông, đường kính < 1cm, số lượng 1-5 vết loét, thường tự khỏi sau 1-2 tuần.

+ Loét áp tơ thể lớn: ít gặp, là vết loét sâu, đường kính tổn thương > 1cm, lâu lành, thường sau vài tuần hoặc vài tháng, khi lành có thể để lại sẹo.

+ Loét áp tơ dạng herpes nhiều vết loét nhỏ như đầu đinh ghim. 

+ Vị trí thường gặp: niêm mạc tiền đình miệng, lưỡi, vòm họng, họng, và sàn miệng. Lợi và vòm khẩu cái rất hiếm khi có tổn thương.

  •  Cơ năng: các vết loét đau với mức độ tái phát khác nhau tùy từng thể bệnh. Một số ít bệnh nhân có triệu chứng ngứa ran hoặc rát bỏng tại khu vực hình thành loét. 

      -      Toàn thân: một số trường hợp có triệu chứng sốt nhẹ.

Hình 2. Loét dạng áp tơ

Chú thích:

A. vết loét ở bên phải lưỡi

B. vết loét ở niêm mạc má phía sau

C. 4 vết loét ở niêm mạc má phía trước

  1. 5. Cận lâm sàng

Chủ yếu để chẩn đoán phân biệt, chẩn đoán nguyên nhân.

 - Công thức máu toàn phần

- Tốc độ máu lắng 

- Đánh giá tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng (như vitamin B12, folat, sắt)

- Soi tươi tìm nấm

- Xét nghiệm tế bào học dịch dạng nang

- Xét nghiệm HIV

- Mô bệnh học cần làm trong các trường hợp nặng hoặc không điển hình để loại trừ các tình trạng khác ở niêm mạc.

  1. 6. Điều trị

 

Nguyên tắc điều trị

- Điều trị giảm đau, thúc đẩy quá trình làm lành vết loét và giảm tần suất cũng như mức độ của các đợt bệnh. 

- Vệ sinh răng miệng tốt, tránh các yếu tố làm trầm trọng thêm.

Điều trị cụ thể

    Điều trị tại chỗ

- Gel corticosteroid ngày 2-3 lần, bôi sớm ngay khi phát bệnh sẽ giảm được đau và thời gian lành một cách rõ rệt. Tuy không thể ngăn ngừa tái phát, nhưng tần xuất tái phát thường giảm sau khi dùng corticosteroid tại chỗ.

- Các thuốc bôi khác có thể sử dụng kết hợp hoặc thay thế corticosteroid bôi bao gồm:

+ Tetracyclin bôi 

+ Sucralfat huyền phù súc miệng 4 lần/ngày

+ Hyaluronic axit dạng gel 0,2 % hoặc nước súc miệng

+ Amlexanox 5% dạng bột nhão được bôi lên tổn thương sớm 4 lần/ngày. Tác dụng phụ bao gồm cảm giác châm chích và lạnh tại vị trí bôi thuốc và vị kim loại.

- Liệu pháp laser: chiếu laser hene tại chỗ loét.

Điều trị toàn thân 

- Lựa chọn thứ nhất: khi không đáp ứng với điều trị tại chỗ đơn thuần, sử thuốc corticosteroid tương đương prednison uống liều 20-40 mg/ngày trong 4-7 ngày.

- Lựa chọn thứ hai: khi bệnh dai dẳng, tái phát nhiều, không kiểm soát được bằng corticosteroid toàn thân ngắn ngày kết hợp thuốc bôi.

+ Colchicin: liều khởi đầu uống 0,6 mg/ngày trong 1 tuần, nếu dung nạp tăng lên 0,6 mg x 2 lần/ngày kéo dài ít nhất 1 tháng.

+ Dapson: liều khởi đầu 25-50 mg/ngày, tối đa 150mg/ngày, kéo dài ít nhất 1 tháng.

+ Có thể kết hợp colchicin và dapson, việc điều trị kết hợp cho kết quả hiệu quả hơn so với chỉ dùng riêng từng chất. 

 - Các điều trị khác:

+ Thalidomid: liều 50-100 mg/ngày, duy trì ở liều 25 mg/ngày.

+ Montelukast: chất ức chế leukotrien, liều 10 mg/ngày trong 1 tháng sau đó là liều 10mg cách ngày.

+ Apremilast: chất ức chế phosphodiesterase đường uống có tác dụng ức chế sản xuất cytokin tiền viêm, liều 30 mg 2 lần/ngày trong 2-6 tuần.

+ Pentoxifyllin 400 mg 3 lần/ngày.

Điều trị hỗ trợ và giảm đau

- Điều trị nhiễm trùng thứ phát nếu có.

- Vitamin và thực phẩm bổ sung: bổ sung vitamin B12 trong 6 tháng.

- Kiểm soát đau: thuốc tê tại chỗ có thể làm giảm khó chịu tạm thời nếu sử dụng trước khi ăn và vệ sinh răng miệng: 

+ Lidocain 2% dạng nhớt: lựa chọn đầu tay, bôi tổn thương hoặc dạng súc miệng và nhổ

+ Diphehydramin lỏng :12.5 mg/5ml; 5ml dạng súc miệng 

+ Dyclonin hình thoi: tan chậm trong miệng

+ Hỗn dịch nhôm hydroxid, magne hydroxid và simethicon 5-10 ml súc miệng và nhổ

+ Attapulgit huyền phù: 600-750 mg/15ml; 5-10ml súc miệng và nhổ.

  1. 7. Phòng bệnh

Hình 3. Các biện pháp phòng ngừa loét áp tơ

TÀI LIỆU THAM KHẢO     

  1. Quyết định số 4416/QĐ-BYT năm 2023, Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh Da liễu, Bộ Y Tế.
  2. Plewa, Michael C., and Kingshuk Chatterjee. " Recurrent aphthous stomatitis." StatPearls [Internet] (2025).
  3. Cappello F, Rappa F, Canepa F, et al. Probiotics can cure oral aphthous-like ulcers in inflammatory bowel disease patients: a review of the literature and a working hypothesis. Int J Mol Sci. 2019;20(20):5026. doi:10.3390/ijms20205026

 

ThS. Kim Ngọc Sơn

ThS. Nguyễn Thanh Tâm


  • Địa chỉ: Số 10 Huỳnh Văn Nghệ, phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai
  • Điện thoại: 0251 3952 778
  • Email: lachong@lhu.edu.vn
  • © 2023 Đại học Lạc Hồng
  343,500       1/816